|
| DTC |
Sáng ngày 12-7-2008 ĐTC Bênêđictô XVI đã cho công bố sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo, ngày 19 tháng 10, với đề tài là ”được mời gọi làm đầy tớ và Tông Đồ của Đức Chúa Giêsu Kitô vào đầu thiên niên mới”, trong đó ĐTC tái xác định rằng truyền giáo là bổn phận cấp bách của mọi thành phần Dân Thiên Chúa. Dưới đây là bản dịch từ nguyên văn bằng Ý Ngữ trong website của Tòa Thánh.
“Các Đầy Tớ và Tông Đồ của Đức Chúa Giêsu Kitô”
Anh chị em thân mến,
Nhân dịp Chúa Nhật Thế Giới Truyền Giáo, tôi mời anh chị em suy nghĩ về sự cấp bách của việc rao giảng Tin Mừng ở thời đại chúng ta. Mệnh lệnh truyền giáo vẫn tiếp tục là một ưu tiên tuyệt đối cho tất cả những ai đã được rửa tội, được mời gọi để trở thành “những đầy tớ và tông đồ của Đức Chúa Giêsu Kitô” ở đầu thiên niên này. Vị Tiền Nhiệm khả kính của tôi, Đấng Tôi Tớ Thiên Chúa Phaolô VI đã nói trong Tông Huấn Evangelii Nuntiandi rằng “truyền giáo là một ân sủng, ơn gọi riêng, và căn tính sâu xa nhất của Hội Thánh” (số 14). Như một mẫu gương của quyết tâm trong việc tông đồ này, tôi muốn đặc biệt nói đến Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại, bởi vì năm nay chúng ta dành một Năm Thánh đặc biệt để mừng kỷ niệm [sinh nhật] ngài. Đó là Năm Thánh Phaolô, ngõ hầu chúng ta có dịp làm quen với vị Tông Đồ xuất sắc này, là đấng được ơn gọi rao giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại, như Chúa đã công bố: “Hãy đi, vì Thầy sẽ sai con đi thật xa, đến với các Dân Ngoại” (Tđcv 22:21). Làm sao mà chúng ta không nắm lấy cơ hội Năm Thánh đặc biệt này cung ứng cho các Giáo Hội địa phương, các cộng đoàn Kitô hữu và từng cá nhân mỗi tín hữu, để phổ biến đến tận cùng trái đất việc rao giảng Tin Mừng, là quyền năng của Thiên Chúa để cứu độ tất cả những ai tin (Rom 1:6)?
1. Nhân loại cần được giải phóng
Nhân loại cần được giải phóng và cứu độ. Thánh Phaolô nói, chính các tạo vật đang đau khổ và hy vọng được tham gia vào sự tự do của con cái Thiên Chúa (x. Rom 8:19-22). Những lời này vẫn còn đúng ngay cả cho thế giới hôm nay. Các tạo vật đang đau khổ. Nhân loại đang quằn quại và mong chờ sự tự do thật, mong đợi một thế giới khác, một thế giới tốt đẹp hơn; mong chờ “ơn cứu độ”. Và người ta biết cách căn bản rằng thế giới mới được mong đợi chắc chắn là một người mới, chắc chắn là “con cái Thiên Chúa”. Hãy nhìn kỹ hơn tình trạng thế giới hôm nay. Trên bình diện quốc tế, nếu một đằng có những triển vọng phát triển về kinh tế và xã hội, thì đằng khác lại có những lo lắng nặng nề về chính tương lai. Trong nhiều trường hợp, bạo lực đánh dấu những liên hệ giữa các cá nhân và giữa các dân tộc; sự nghèo đói đang đè nặng trên hằng triệu người; sự kỳ thị và đôi khi cả ngược đãi vì lý do mầu da, văn hóa và tôn giáo, đang làm cho nhiều người phải bỏ quê hương để đi chỗ khác tìm nơi trú ẩn và che chở; những tiến bộ về kỹ thuật, khi không nhắm vào phẩm giá và sự tốt lành của con người, hoặc nhằm phát triển dựa trên tình đoàn kết, mất khả năng của nó như là một yếu tố hy vọng và ngược lại có thể làm cho những sự thiếu quân bình và bất công đang sẵn có thêm trầm trọng. Hơn nữa, còn có những đe dọa liên tục trong quan hệ giữa con người và môi sinh do việc sử dụng tài nguyên cách bừa bãi, với hậu quả không tốt đối với sự lành mạnh về thể chất cũng như tinh thần của con người. Như thế tương lai của nhân loại cũng bị lâm nguy bởi những âm mưu xâm phạm đến sự sống của mình, dưới nhiều hình thái và phương thức khác nhau.
Trước cảnh “cảm thấy sức nặng của một nỗi ưu tư, bị giằng co giữa hy vọng và lo âu” (Gaudium et Spes, 4), chúng ta tự hỏi: nhân loại và tạo vật sẽ ra sao? Có một hy vọng nào cho tương lai, hay đúng hơn, có một tương lai nào cho nhân loại không? Và tương lai ấy sẽ như thế nào? Câu trả lời cho những thắc mắc này đến với chúng ta là những người tin vào Tin Mừng. Đức Kitô chính là tương lai của chúng ta, như tôi đã viết trong Thông Điệp Spe Salvi, Tin Mừng của Người là một sự truyền thông có thể “thay đổi cuộc đời”, đem lại hy vọng, mở cửa tối tăm của thời gian và soi sáng tương lai của nhân loại và vũ trụ (x. số 2).
Thánh Phaolô đã hiểu rõ rằng nhân loại chỉ có thể tìm thấy ơn cứu độ và hy vọng trong Đức Kitô. Vì thế mà ngài đã cảm thấy việc truyền giáo là việc cấp bách và khẩn thiết để công bố “lời hứa sự sống trong Đức Chúa Kitô Giêsu” (2 Tim 1:1), là “niềm hy vọng của chúng ta “ (1 Tim 1:1), ngõ hầu mọi người có thể đồng thừa tự và đồng tham gia vào lời hứa nhờ Tin Mừng (x. Eph 3:6). Ngài ý thức rằng không có Đức Kitô thì nhân loại “không còn hy vọng và không có Thiên Chúa trên thế gian” (Eph 2:12) – “không còn hy vọng vì không có Thiên Chúa” (Spe Salvi, 3). Thật vậy, “người nào không biết Thiên Chúa, dù họ có thể đặt hy vọng vào đủ thứ, nhưng rốt cục họ không có hy vọng, không có niềm hy vọng lớn lao có thể nâng đỡ toàn thể đời sống (Eph 2:21)” (Spe Salvi, 27).
2. Sứ vụ Truyền Giáo là một vấn đề bác ái
Cho nên việc rao giảng Đức Kitô và sứ điệp cứu độ của Người là nhiệm vụ khẩn cấp của tất cả mọi người. Thánh Phaolô đã nói, “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1 Cor 9:16). Trên đường đi Đamascô, ngài đã cảm nghiệm và đã hiểu rằng ơn cứu độ và truyền giáo là công việc của Thiên Chúa và tình yêu của Ngài. Lòng yêu mến Đức Kitô đã đưa ngài đi khắp các nẻo đường của Đế Quốc Rôma như người tiền hô, tông đồ, người rao giảng và vị thầy dạy Tin Mừng, là người nhận mình là “sứ giả mang xiềng xích” (1 Cor 6:20). Tình yêu Thiên Chúa biến ngài thành “mọi sự cho mọi người, để có thể cứu một số người bằng mọi cách” (1 Cor 9:22). Khi nhìn đến kinh nghiệm của Thánh Phaolô, chúng ta hiểu rằng hoạt động truyền giáo là một sự đáp lời Thiên Chúa, Đấng thương yêu chúng ta. Tình yêu của Ngài cứu độ chúng ta và đẩy chúng ta về phiá missio ad gentes (rao giảng cho muôn dân), là một năng lực tinh thần có khả năng làm lan rộng trong gia đình nhân loại sự hoà hợp, công lý và hiệp thông giữa con người, màu da và dân tộc, là điều mọi người đều mong muốn (x. Deus Caritas Est, 12). Cho nên, chính Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu, đã dẫn đưa Hội Thánh đến những biên cương của nhân loại và mời gọi các nhà truyền giáo đến uống “ở nguồn mạch nguyên thủy, là Đức Chúa Giêsu Kitô, mà từ trái tim bị đâm thâu của Người chảy ra tình yêu Thiên Chúa (Deus Caritas Est, 7). Chỉ từ nguồn mạch này mà các sứ giả của Tin Mừng có thể múc được sự chăm sóc, dịu dàng, trắc ẩn, chấp nhận, sẵn sàng và quan tâm đến những vấn đề của con người , và những nhân đức khác cần thiết để bỏ mọi sự và hoàn toàn hiến thân cách vô điều kiện để rải khắp thế giới hương thơm đức ái của Đức Kitô.
3. Luôn luôn Truyền Giáo
Trong khi việc truyền giáo lần đầu vẫn tiếp tục cần thiết và khẩn trương ở nhiều nơi trên thế giới, chúng ta ngày nay lại phải đương đầu với việc thiếu giáo sĩ và ơn gọi làm tổn thương một số giáo phận và các dòng tu. Cần phải nhắc lại rằng, mặc dù có những khó khăn chồng chất, mệnh lệnh truyền giáo cho muôn dân của Đức Kitô vẫn là một ưu tiên. Không có lý do nào có thể biện minh cho sự chểnh mảng hay đình trệ, bởi vì “mệnh lệnh truyền giáo cho muôn dân tạo thành đời sống và sứ vụ căn bàn của Hội Thánh” (ĐTC Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, 14). Đó là một việc truyền giáo vẫn còn ở giai đoạn bắt đầu và chúng ta phải đem hết tâm lực để phục vụ nó” (Gioan Phaolô II, Redemptoris Missio, 1). Làm sao ở đây chúng ta không nghĩ đến người Macêđônia, là người đã hiện ra trong giấc mơ của Thánh Phaolô và nói lớn tiếng: “Xin hãy qua Macêđônia mà giúp đỡ chúng tôi?” Ngày nay cũng có không biết bao người đang chờ chúng ta loan báo Tin Mừng, đó là những người đang khát khao niềm hy vọng và tình thương. Có bao nhiêu người tự vấn tận thâm tâm về yêu cầu giúp đỡ này, là nhu cầu phát sinh từ nhân loại, và từ bỏ tất cả vì Đức Kitô để truyền lại cho người ta đức tin và tình yêu đối với Người! (x. Spe Salvi, 8).
4. Khốn cho tôi nếu tôi không truyền giáo (1 Cor 9:16)
Anh chị em thân mến, “duc in altum!” Hãy ra khơi của biển rộng thế gian và theo lời mời gọi của Đức Kitô, hãy thả lưới mà không sợ hãi, vững tin vào sự trợ giúp luôn luôn của Người. Thánh Phaolô nhắc nhở cho chúng ta rằng việc rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào (x. 1 Cor 9:16), nhưng là một nhiệm vụ và một niềm vui. Các hiền huynh Giám Mục thân mến, theo gương Thánh Phaolô, mọi người đều cảm thấy giống như “một tù nhân của Đức Kitô cho Dân Ngoại” (Eph 3:1), biết rằng quý huynh có thể cậy trông vào sức mạnh đến với chúng ta từ Người trong những lúc khó khăn và thử thách. Một Giám Mục được thánh hiến không phải chỉ cho giáo phận của mình, nhưng cho phần rỗi của cả thế gian (x. Redemptoris Missio, 63). Như Thánh Tông Đồ Phaolô, một Giám Mục được mời gọi để vươn đến những người ở thật xa và chưa biết Đức Kitô hoặc chưa cảm nghiệm được tình yêu giải phóng của Người. Quyết tâm của một Giám Mục là làm cho toàn thể cộng đồng giáo phận thành truyền giáo bằng cách tình nguyện đóng góp, tùy theo khả năng, gửi các linh muc và giáo dân đến những Giáo Hội [địa phương] khác để phục vụ việc truyền giáo. Bằng cách này việc rao giảng cho muôn dân (missio ad gentes) trở thành nguyên tắc hợp nhất và hội tụ của toàn thể hoạt động mục vụ và bác ái.
Phần các con, các linh mục thân yêu, là những cộng tác viên hàng đầu của các Giám Mục, các con hãy trở nên những mục tử quảng đại và các nhà truyền giáo nhiệt thành! Nhiều người trong các con trong những thập niên qua đã đến những nơi truyền giáo theo Thông Điệp Fidei Donummà gần đây chúng ta vừa mừng kỷ niệm 50 năm, và với Thông Điệp này vị Tiền Nhiệm đáng kính của Cha là Đấng Tôi Tớ Thiên Chúa Piô XII đã tạo ra một thúc đẩy trong việc cộng tác giữa các Giáo Hội địa phương. Cha tin chắc rằng sẽ không thiếu sự thôi thúc về truyền giáo này trong Giáo Hội địa phương, dù nhiều nơi đang bị thiếu các giáo sĩ.
Cả chúng con nữa, các tu sĩ nam nữ thân yêu, ơn gọi của chúng con được đánh dấu bằng một ý nghĩa truyền giáo mãnh liệt, đem việc rao giảng Tin Mừng đến cho mọi người, nhất là những người ở thật xa, qua việc liên tục làm chứng cho Đức Kitô và sống theo Tin Mửng của Người tận gốc. Các tín hữu giáo dân thân thương, các con là những người hoạt động trong những lãnh vực khác nhau của xã hội, được mời gọi để tham gia một cách mỗi ngày một thêm quan trọng trong việc truyền bá Tin Mừng. Như thế một đồi areopagô (x. Tđcv 17:19-34) phức tạp và đa dạng được mở ra để các con truyền giáo: đó là thế giới. Hãy làm chứng bằng đời sống rằng các Kitô hữu “thuộc về một xã hội mới, một xã hội là cùng đích của cuộc hành hương chung của họ và được biết trước trên con đường hành hương ấy” (Spe Salvi, 4).
5. Kết Luận
Anh chị em thân mến, chớ gì việc mừng Ngày Thế Giới Truyền Giáo khuyến khích mọi người có một ý thức mới về nhu cầu cấp bách của việc rao giảng Tin Mừng. Tôi không quên chân thành ghi ơn sự đóng góp của các Hiệp Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo vào hoạt động truyền giáo của Hội Thánh. Tôi xin cám ơn họ vì sự giúp đỡ họ dành cho tất cả các cộng đồng, nhất là những cộng đồng trẻ. Họ là những công cụ vững chắc để đem lại sinh khí và đào luyện Dân Thiên Chúa theo nhãn quan truyền giáo. Họ nuôi dưỡng sự hiệp thông giữa nhân lực và tài lực giữa những chi thể khác nhau của Nhiệm Thể Đức Kitô. Nguyện xin cho những quyên góp trong tất cả các giáo xứ trong Ngày Thế Giới Truyền Giáo trở thành một dấu chỉ hiệp thông và lo lắng cho nhau giữa các Giáo Hội. Sau cùng, xin cho những lời cầu nguyện, là phương tiện tinh thần thiết yếu cho việc truyền bá giữa tất cả mọi người ánh sáng của Đức Kitô, “ánh sáng tuyệt vời” chiếu soi “tăm tối của lịch sử” (Spe Salvi, 49), được thêm sốt sắng hơn bao giờ hết trong dân chúng Kitô giáo. Trong khi phó thác cho Chúa việc tông đồ của các nhà truyền giáo, các Giáo Hội [địa phương] khắp nơi trên thế giới và các tín hữu tham gia và những hoạt động truyền giáo khác nhau cùng cầu xin Thánh Phaolô và Đức Thánh Maria, “Hòm Bia Giao Ước sống động”, ngôi Sao của truyền giáo và hy vọng, cầu bầu, tôi ban Phép Lành Tòa Thánh cho mọi người.
Làm tại Vatican ngày 11 tháng 5, năm 2008.
+ ĐTC Bênêđictô XVI
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
Tin Vui Chúa Nhật XXIX Thường Niên
TRẢ CHO XÊDA VÀ TRẢ CHO THIÊN CHÚA
Is 45:1,4-6; 1Tx 1:1-5; Mt 22:15-21
Nhóm người Pharisêu trong Phúc âm hôm nay kết cấu với nhóm Hêrôđê để đưa Chúa vào cuộc tranh chấp chính trị. Nhóm Pharisêu thuộc giáo phái của Do thái giáo. Họ hay phê bình chỉ trích những lời nói và hành động của Chúa, cho rằng Chúa đi ra ngoài tập tục của tiền nhân. Và Chúa cũng thường cảnh giác họ, gọi họ là bọn giả hình vì họ giữ đạo mà thiếu tâm tình bên trong. Nhóm người Pharisêu lại hậm hực vì phải trả thuế cho chính phủ ngoại bang là người La mã. Ðây là loại thuế nhân danh, tính theo đầu người: đàn ông từ 14 tới 65 tuổi, cũng như đàn bà từ 12 tới 65. Còn nhóm Hêrôđê là những người phò đế quốc La mã và do đó phò cả chính sách của vua Hêrôđê. Trước khi đưa Chúa vào tròng, họ tỏ ra nịnh bợ trước đã như khen Chúa là người chân thật và không thiên vị (Mt 28:16).
Thế rồi họ đặt câu hỏi với Chúa: Có được phép nộp thuế cho Xêda không? (Mt 22:17). Câu hỏi có vẻ đơn sơ, nhưng ngụ ý của họ lại khác. Nếu Chúa trả lời có, nghĩa là phải nộp thuế cho Xêda thì Người sẽ bị coi là phản động và mất thế giá trước mặt người Do thái thời bấy giờ vì họ muốn thoát khỏi quyền lực của vua ngoại bang. Nếu Chúa trả lời không, nghĩa là không cần nộp thuế cho Xêda, phe Hêrôđê sẽ tố cáo với nhà chức trách La mã là chống chính quyền ngoại bang. Chúa biết rõ thâm ý của họ nên dùng chính đồng tiền nộp thuế có hình Xêda để giải thích cho họ. Chỉ vào hình Xêda trên đồng tiền, Chúa bảo họ: Của Xêda, trả về Xêda, của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa (Mt 22:21).
Ở đây Chúa phân biệt hai phạm vi thế quyền và thần quyền. Thế quyền và thần quyền tách biệt nhau, nhưng có liên hệ với nhau. Chúa muốn họ cũng vâng phục thế quyền để duy trì trật tự và lợi ích công cộng. Thế quyền cũng bắt nguồn bởi Thiên Chúa như lời Thánh kinh dạy là mọi quyền bính trên trời dưới đất đều bởi Thiên Chúa. Trong bài trích sách ngôn sứ Isaia, Chúa đã dùng vua Ba tư ngoại giáo là Kyrô, người được sức dầu, để thống trị đế quốc Babylon, đem dân tộc Chúa chọn trở về khỏi ách lưu đầy (Is 45:1). Công đồng Vaticanô II nói về những liên hệ giữa thế quyền và thần quyền như sau: Tuỳ theo hoàn cảnh và địa phương, nếu cả hai càng duy trì được sự cộng tác lành mạnh, cả hai càng phục vụ lợi ích của con người một cách hữu hiệu hơn (Gaudium et Spes # 76). Dựa vào lời Chúa dạy thì Thiên Chúa và Xêda, hay nói cách khác, thần quyền và thế quyền, đều có những đòi hỏi nơi người công dân. Bằng cách bảo nộp thuế cho Xêda, Chúa bảo toàn quyền hợp pháp của Xêda để duy trì trật tự và ích lợi chung cho xã hội loài người. Mặc dầu là chính phủ thuộc địa, nhưng trong giai đoạn thuộc địa đó, chính quyền thuộc địa cũng cung ứng được những tiện ích nào đó cho người dân.
Người công dân trách nhiệm thì tuân hành luật lệ hợp pháp của quốc gia để duy trị trật tự và lợi ích công cộng. Ðóng thuế là phương tiện giúp chính phủ bảo toàn an ninh và an sinh xã hội. Chính Chúa Giêsu đã làm gương trong việc nộp thuế đền thờ để người khác khỏi vấp phạm, mặc dù cắt nghĩa theo luật đền thở thì Chúa được miễn. Chúa bảo ông Phêrô: Con hãy ra biển thả câu, con cá nào bắt được trước tiên thì hãy mở miệng nó ra, lấy một đồng bạc về mà nộp xuất thuế của Thày và của con (Mt 17:27). Tuân giữ luật dân sự, Mẹ Maria và thánh Giuse đã làm cuộc hành trình về Bêlem, để khai sổ nhân danh theo lệnh hoàng đế Augúttô (Lc 2:1-7).
Việc tuân giữ luật pháp dân dự giả thiết rằng luật pháp đó dựa theo và phù hợp với luật Thiên Chúa. Còn khi mà luật pháp dân dự đi ngược lại luật Thiên Chúa, thì người công giáo theo tiếng lương tâm ngay thẳng phải bày tỏ lập trường. Người công giáo gồm cả hàng giáo sĩ, có hai quyền công dân: công dân nước trần thế và công dân nước Trời. Là người công dân của nước trần thế, người công giáo cần đóng thuế và tuân hành luật pháp công bình của quốc gia, xã hội. Ngoài ra dựa theo lời Chúa dạy, Giáo hội cũng khuyến khích người công giáo, với tư cách là công dân của một quốc gia, tham gia vào guồng máy chính trị của xã hội. Tuy nhiên tập thể Giáo Hội, cũng như hàng giáo sĩ, thành phần ưu tú của Giáo hội, không chủ trương tham chính, cũng không đem chính trị đảng phái vào Giáo hội bởi vì Giáo hội là một thực thể siêu việt, đứng trên mọi thể chế chính tri. Giáo hội mang tính chất trường tồn, còn đảng phái cầm quyền chỉ có tính chất giai đoạn, nay còn mai mất khi có việc đổi chủ. Công Ðồng Vaticanô II khẳng định về Giáo hội và thể chế chính trị như sau: Giáo hội không cách nào bị đồng hoá với một cộng đoàn chính trị và cũng không cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào vì Giáo hội vừa là dấu chỉ vừa là bảo đảm cho tính cách siêu việt của con người (Gaudium et Spes # 76).
Khi Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II viếng thăm Mỹ Châu, Ngài cảnh giác một linh mục là thành viên Hạ viện ở một quốc gia Bắc Mỹ và một linh mục bộ trưởng chính phủ tại một quốc gia ở Trung Mỹ rằng nếu muốn tiếp tục làm linh mục thì phải bỏ việc tham chính. Hai vị đã tuân theo lời Ðức Thánh Cha. Lí do là vì tham chính là làm chính trị. Mà làm chính trị đôi khi phải thủ đoạn và ma giáo. Mà ma giáo và thủ đoạn thì không phù hợp với chức vụ linh mục. Ngoài ra để thu hút phiếu của nhóm nọ nhóm kia, linh mục làm chính trị có thể ủng hộ lập trường nào đó, đi ngược lại đường lối của Giáo hội.
Là công dân nước Trời, người công giáo có bổn phận trả cho Thiên Chúa những gì thuộc Thiên Chúa. Ta trả cho Thiên Chúa bằng việc thờ phượng, tin yêu mến Chúa và tuân giữ giới răn Chúa. Ta trả cho Chúa bằng việc góp của xây dựng, sửa sang và dọn dẹp nhà Chúa. Ta trả cho Chúa bằng việc tông đồ để mở mang nước Chúa hầu làm vinh danh Chúa. Ta trả cho Chúa bằng việc bác ái, phục vụ và giúp đỡ tha nhân, hình ảnh của Chúa.
Lời cầu nguyện xin cho biết phân định thần quyền và thế quyền:
Lạy Chúa, con xin tạ ơn Chúa đã đến dạy bảo loài người phân định giữa thần quyền và thế quyền. Xin cho luật pháp các quốc gia được phản ảnh luật Chúa. Còn những nhà làm luật chưa nhận biết Chúa, xin cho luật pháp họ đạo đạt được phản ảnh luật tự nhiên đã được ghi khắc trong lương tâm chính trực của họ. Cũng xin dạy con biết tuân giữ luật pháp công chính hầu cho trật tự và tiện ích công cộng được bảo đảm. Và xin dạy con biết tuân hành luật Chúa để mối liên hệ giữa Chúa và con được tăng triển. Amen.
LM Trần Bình Trọng
(Nguồn: UBGL VN tại HK)
LỜI CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ HỘI THÁNH
PHẦN MỞ ĐẦU
Đề tài của Ngày Chúa Nhật Giáo Lý năm 2008 là “Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ Hội Thánh.” Đó cũng là đề tài của Thượng Hội Đồng Giám Mục sẽ được tổ chức vào Tháng Mười năm 2008. Trong ba tuần lễ của Thượng Hội Đồng Gíám Mục, các giám mục đại diện toàn thể thế giới sẽ họp tại Rôma để cầu nguyện, học hỏi, và thảo luận về vai trò của Thánh Kinh trong đời sống và sứ vụ của Hội Thánh. Trong nhiều vấn đề mà các ngài sẽ bàn đến có những vấn đề này:
Qua việc chọn lựa và làm cho ngày Chúa Nhật Giáo Lý có cùng một đề tài với đề tài dành cho Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới, Ủy Ban Phúc Âm Hóa và Giáo Lý mời gọi cộng đoàn Giáo Lý trong nước Hoa Kỳ cũng biến việc học Lời Chúa thành trọng tâm của năm nay.
Trong khi chắc chắn là chú tâm đến Thánh Kinh, bản câu hỏi (Lineamenta) – tài liệu học hỏi mà các giám mục đại diện dùng để sửa soạn cho Thượng Hội Đồng – nói rõ rằng lời Chúa còn lớn hơn Thánh Kinh: Lời Chúa là Đức Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa. Cho nên năm Thượng Hội Đồng này và năm Giáo Lý này phải đặt trọng tâm vào cả Chúa Giêsu lẫn Thánh Kinh.
Mỗi Giáo Lý viên phải ý thức rằng trọng tâm của việc dạy Giáo Lý là Đức Kitô. Dạy Giáo Lý là dạy về Đức Kitô. Làm Giáo Lý viên là để Đức Kitô sử dụng con người của mình mà dạy. Đức Kitô mới là ViịThầy dạy về Lời Người, còn chúng ta chỉ là công cụ của Người. Muốn dạy về Đức Kitô, chúng ta phải tận tâm học hỏi để biết và yêu mến Người để có thể truyền thụ tình yêu này cho người khác.
Phaolô Phạm Xuân Khôi soạn theo tai liệu của HHĐGMHK.